Nhập nội dung bạn cần tìm

Nhập nội dung bạn cần tìm
Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi thường gặp

Đặt câu hỏi và lắng nghe những chia sẻ, giải đáp về đậu nành từ các chuyên gia!

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi! Câu trả lời sẽ được gửi về địa chỉ email đăng kí

giải đáp từ chuyên gia

  • Tại sao gọi đậu nành là “thịt trắng”. Vậy “thịt đỏ” là gì? Tỉ lệ sử dụng “thịt trắng” và “thịt đỏ” như thế nào là hợp lý?

    Đậu nành chứa nhiều đạm (33-38%), là đạm thực vật duy nhất có chất lượng cao gần tương đương trứng và sữa, vì thế, đậu nành được gọi là “thịt trắng”.

    Đạm động vật, cụ thể như thịt bò, thịt heo, thịt cừu… thịt đỏ”. Thịt đỏ có giá trị dinh dưỡng cao nhưng không ở dạng đơn thuần mà ở dưới dạng liên hợp như nucleoprotid (là phức hợp của đạm và lipid) nên trong quá trình chuyển hóa sẽ tạo ra các chất không tốt cho sức khoẻ như ure, axit uric, nitrat, cholesterol… Không thể phủ nhận giá trị dinh dưỡng cao, tốt cho con người của thịt đỏ, nhưng nếu chúng ta lạm dụng quá nhiều thịt đỏ sẽ dễ dẫn đến các bệnh mãn tính không lây như béo phì, tim mạch, gút thậm chí là bệnh ung thư. Theo báo cáo của Tờ Medical Daily, hút thuốc và thịt đỏ là nguyên nhân của 50% bệnh ung thư.

    Đạm đậu nành thì lành tính. TS. Mark Messina đã chỉ ra trong nghiên cứu J Nutr 140: 2302S năm 2010, đạm đậu nành có khả năng giúp giảm 8-16% các triệu chứng về tim mạch[1]. Ngoài ra, đậu nành còn có Isoflavones, chất giúp bảo vệ các tế bào tổn thương, giúp phòng ngừa các bệnh ung thư. Theo khuyến nghị dinh dưỡng dành cho người trưởng thành, lượng đạm tiêu thụ nên cân bằng giữa đạm động vật và đạm thực vật, trong đó đạm thực vật nên chiếm tối thiểu 1/3 tổng lượng đạm tiêu thụ (khoảng 85g/ngày). Nếu được phối hợp cân bằng trong chế độ dinh dưỡng hàng ngày, thịt trắng và thịt đỏ sẽ giúp hạn chế được tác động bất lợi của đạm động vật đối với sức khoẻ mà vẫn đảm bảo được nhu cầu cho các hoạt động của cơ thể.


    [1]J Nutr 140: 2302S, 2010

    Xem tiếp
  • Tôi thấy một số tài liệu gọi đậu nành là nguồn đạm xanh của tương lai, điều này có thật không?

    Đậu nành là một trong ít các loại thực vật chứa đầy đủ các nhóm chất sinh năng lượng: đạm, bột-đường, béo và rất nhiều vitamin-khoáng chất.

    Các nguồn đạm thực vật nói chung như đậu nành, nấm, tảo… được chứng minh là giúp cải thiện sức khoẻ và giảm thiểu nguy cơ bệnh tật. Trong số các thực phẩm giàu đạm thực vật, đậu nành có tỷ lệ đạm lên đến 33- 38% (so với thịt bò là 18%), được khoa học công nhận là đạm thực vật hoàn chỉnh vì có giá trị cao gần tương đương đạm trong trứng và sữa.

    Chất béo của đậu nành gồm phần lớn chất béo không bão hòa, không có cholesterol, tốt cho sức khỏe. Hệ thống vitamin-khoáng chất của đậu nành rất phong phú, từ vitamin A, B, E, K đến các khoáng chất như canxi, kali, mangan, magie…  tốt cho phát triển xương và trí não. Một điểm đáng lưu ý là nhóm vitamin B trong đậu nành hỗ trợ tốt cho quá trình chuyển hóa trong cơ thể. Đậu nành dễ chế biến, linh hoạt đáp ứng nhu cầu của nhiều nền văn hóa khác nhau.

    Với thành phần dinh dưỡng tốt cho sức khỏe, đậu nành đang đóng vai trò quan trọng trong việc giúp con người có chế độ dinh dưỡng lành mạnh, phòng ngừa các bệnh mạn tính không lây đang có xu hướng tăng cao như thừa cân-béo phì, tim mạch, đái tháo đường, ung thư…

     

    Về mặt nông nghiệp, đậu nành được xem là nhà máy sản xuất đạm tự nhiên, không cần phân bón khả năng cố định ni-tơ từ khí quyển thành amoniac giúp đất tươi xốp, không bị bạc màu, cải tạo đất tốt hơn làm tăng năng suất cho các cây trồng vụ sau. Trước nhu cầu lương thực của 9 tỉ người trên thế giới, đậu nành đang được xem là đứng đầu danh sách thực phẩm xanh nhờ giá trị dinh dưỡng phong phú và không đòi hỏi quá nhiều chi phí sản xuất.

    Xem tiếp
  • Cháu nhà tôi bị bất dung nạp đường lactose có trong sữa bò, cứ uống sữa bò là cháu bị tiêu chảy, bác sĩ khuyên nên cho con uống sữa đậu nành để thay thế vì không có lactose. Tuy nhiên, tôi đang lo lắng vì không biết sữa đậu nành có cung cấp đủ dinh

    Theo báo cáo của Hội đồng đậu nành Hoa Kỳ (The United Soybean Board) về việc sử dụng sữa đậu nành công thức ở trẻ, tại Mỹ, 13% trẻ bị dị ứng với sữa bò đã sử dụng sữa đậu nành ngày từ khi thôi sữa mẹ[1]. Ngoài ra, có tỉ lệ không nhỏ (9,6% trẻ từ 2-19 tuổi và 38% trẻ béo phì mắc chứng gan nhiễm mỡ) đều được khuyên dùng sữa đậu nành[2].

    Các nghiên cứu cho thấy, trẻ sử dụng sữa đậu nành công thức đều tăng trưởng và phát triển bình thường, cả thể chất lẫn trí tuệ so với các trẻ khác[3][4][5].

    Ưu điểm của sữa đậu nành cung cấp đầy đủ các chất cần cho sự phát triển thể chất của trẻ như: đạm, đường, béo, xơ, các vitamin-khoáng chất…, không có đường lactose,không có cholesterol.

    Đạm đậu nành có giá trị dinh dưỡng rất cao, bao gồm 8 axít amin thiết yếu mà cơ thể không tự tổng hợp được, cung cấp đạm cho cơ thể, bổ sung năng lượng lâu dài cho mọi hoạt động của trẻ và phòng ngừa bệnh tim mạch nếu dùng lâu dài và thường xuyên. Đối với sữa đậu nành công nghiệp, các nhà sản xuất còn bổ sung thêm i-ốt, canxi, DHA… để đáp ứng nhu cầu phát triển trí tuệ của trẻ.

    Có một điểm cần lưu ý là đậu nành nấu tại nhà cần nấu chín kỹ ở 100oc và bảo quản trong tủ lạnh cho 24 giờ sử dụng. Phụ huynh cũng có thể lựa chọn những sản phẩm sữa đậu nành đóng hộp cho trẻ của các công ty uy tín trên thị trường để đảm bảo chất lượng. Chúc bé phát triển khỏe mạnh.


    [1]Osborn DA, Sinn J. Soy formula for prevention of allergy and food intolerance in infants. Cochrane Database Syst Rev. 2006:

    CD003741.

    [2]Kemp AS, Hill DJ, Allen KJ, Anderson K, Davidson GP, Day AS, Heine RG, Peake JE, Prescott SL, et al. Guidelines for the use of

    infant formulas to treat cows milk protein allergy: an Australian consensus panel opinion. Med J Aust. 2008; 188: 109-112.

    [3]Merritt RJ, Jenks BH. Safety of soy-based infant formulas containing isoflavones: the clinical evidence. J Nutr. 2004; 134:

    1220S-1224S.

     [4]Klein KO. Isoflavones, soy-based infant formulas, and relevance to endocrine function. Nutr Rev. 1998; 56: 193-204.

    [5]American Academy of Pediatrics. Committee on Nutrition. Hypoallergenic infant formulas. Pediatrics. 2000; 106: 346-9.

    Xem tiếp